Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hỗ trợ trực tuyến

    Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    THẮNG CẢNH

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp, phong phú
    Khá phong phú
    Bình thường
    Đơn điệu
    Ý kiến khác

    BÁO MỚI

    TỪ ĐIỂN ANH-VIỆT

    Từ Điển Online

    Gốc > Tin tức hàng ngày > Thành tích >

    LỊCH SỬ TRƯỜNG THCS HẢI SƠN

    Lời nói đầu

    Hải Sơn là một xã thuộc phía nam của huyện Hải Lăng. Một vùng quê sống ven các dòng sông từ dòng Thác Ma đến dòng Ô Lâu thơ mộng rồi qua dòng Ô Giang. Địa hình kéo dài một dãi dài hình con số 1. Cũng từ đặc điểm này mà bao thiên tai hàng năm vẫn đến với người dân Hải Sơn với bao hải hùng: lũ quét ở vùng cao (phía trên quốc lộ 1A và đường sắt) gồm làng Khe Mương, Tân Lý, Trầm, Như Sơn và Tân Điền; lũ dâng ở vùng dưới Quốc lộ 1A gồm làng Lương Điền, Lương Hải và Hà Lộc. Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử với bao lần tách nhập, thay đổi tên gọi... nhưng Hải Sơn vẫn oằn mình vươn lên vượt qua mọi gian nan, vững tin vào tương lai. Con người Hải Sơn chịu thương chịu khó, cảnh cơ cực luôn bám đuổi suốt từ đời này sang đời khác nhưng Hải Sơn vẫn cách mạng vươn lên về mọi mặt. Đặc biệt với truyền thống hiếu học và khuyến học của địa phương. Đây là vốn quý của nhân dân Hải Sơn trong kháng chiến cũng như trong dựng xây đất nước.

    THCS Hải Sơn được thành lập vào ngày 18 tháng 2 năm 2005. Dẫu sinh sau đẻ muộn so với các xã bạn nhưng THCS Hải Sơn đã tự khẳng định mình sau bao năm con em Hải Sơn phải đi học nhờ các xã bạn.

    Năm học 2012-2013, thực hiện điểm “nhấn” của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị "Biên soạn lịch sử và xây dựng phòng truyền thống nhà trường". Nhà trườngxậy dựng góc truyền thống vừa tổ chức viết lịch sử của trường nhằm ôn lại truyền thống tốt đẹp của con người Hải Sơn, truyền thống này mãi là dấu ấn cho mỗi người con Hải Sơn hôm nay và mai sau-Truyền thống chịu thương chịu khó- bất chấp hoàn cảnh khó khăn của thiên tai khắc nghiệt, của chiến tranh đ vươn lên khát vọng sống vì một ngày mai tươi sáng. Truyền thống đó còn là dấu son cho các thầy cô giáo và  bao thế hệ học sinh của Hải Sơn noi gương, học tập và tiếp tục hun đúc lêncho THCS Hải Sơn mãi mãi là điểm sáng của Giáo dục Hải Lăng.

    Ban Biên tập chân thành cảm ơn các cấp lãnh đạo đã tạo điều kiện để thu thập tài liệu, các nhà lão thành cách mạng, các quý thầy cô đã từng công tác và chiến đấu trên mảnh đất Hải Lăng, thư viện trường cung cấp Lịch sử Đảng Bộ Huyện Hải Lăng, Lịch sử GD huyện Hải Lăng, Lịch sử Đảng bộ xã Hải Sơn...đã tham gia đóng góp cho cuốn tài liệu này được ra đời.

    Dù đã rất cố gắng nhưng chắc chắn vẫn còn thiếu sót. Ban biên tập rất mong quý bạn đọc tham gia góp ý để hoàn thiện hơn trong dịp ra mắt dịp Ngày truyền thống của trường THCS Hải Sơn, kỷ niệm 10 năm ngày thành lập trường (18/02/2005-18/02/2015).

    Xin trân trọng cảm ơn!

                                                             Ban biên tập

     

    KHÁI QUÁT HÌNH THÀNH MẢNH ĐẤT CON NGƯỜI

    VÀ TRUYỀN THỐNG HIẾU HỌC HẢI SƠN

     

    Xã Hải Sơn thuộc phía nam của Huyện Hải Lăng, cách trung tâm huyện lỵ 12 km, phía nam và đông nam giáp xã Hải Chánh và xã Phong Hòa (huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế), phía tây và tây nam giáp với xã Phong Mỹ (huyện Phong Điền, Thừa Thiên-Huế) và xã Hải Phúc (huyện Ba Lòng), phía bắc và tây bắc giáp với xã Hải Trường, phía đông và đông bắc giáp với xã Hải Tân. Địa bàn xã bị đường Quốc lộ IA và đường sắt chia ra  hai vùng. Xã có 8 làng với 1.000 hộ dân với trên 5.000 dân sống hầu hết ven phía bắc dòng Thác Ma, Ô Lâu và Ô Giang. Phía vùng trên gồm các làng Khe Mương, Tân Lý, Trầm Sơn, Tân Điền, Như Sơn và đội 4, đội 5 làng Lương Điền); vùng phía dưới gồm làng Lương Điền gồm các đội 1, 2, 3, làng Lương Hải và làng Hà Lộc.

    Với làng Khe Mương ở phía tây của xã, là làng xa nhất đến khu trung tâm, có 63 hộ với 330 khẩu. Trong đó có trên 30 hộ sống phía nam đầu nguồn Thác Ma: Xóm Bạc Mày, đi lại rất khó khăn, vượt thác vào mùa hè và phải băng núi đồi để về khu trung tâm mất trên 10 km. Với làng Tân Lý gồm 60 hộ, cũng ở phía nam của đầu nguồn Thác Ma, đi lại cũng khó khăn không kém xóm Bạc Mày. Để về khu trung tâm phải vượt sông bằng thuyền qua làng Trầm Sơn hoặc vượt đồi núi qua làng Lương Sơn, về làng Tân Lương-Xuân Lộc của Hải Chánh phải mất cả 10 cây số đường đi. Đời sống của 2 làng trên chủ yếu vào rừng kiếm củi nên kinh tế khá khó khăn (không có ruộng), con cái không được học lên cao do đi lại quá khó khăn.

    Với làng Trầm Sơn cách Trung tâm 6-8 km có 54 hộ dân với trên 250 khẩu; tiếp đến là làng Tân Điền 3-5 km với  118 hộ dân với 480 khẩu. Hai làng này cũng không có ruộng bao nhiêu, chỉ một ít ruộng làm một vụ nên chủ yếu dựa vào rừng, vào nương rẫy.

    Với làng Lương Hải thành lập năm 1998 (được tách ra từ đội 6 làng Lương Điền, thuộc khu vực xóm Bại), gồm 55 hộ với 250 khẩu sinh sống bằng nghề lấy cát sạn và chài lưới là chính. Ở đây, người dân đã định cư chen chúc ven bờ Thác Ma.

    Với các làng còn lại đều chủ yếu làm nghề nông. Làng Như Sơn với 40 hộ với 200 khẩu sống giáp ranh với Hải Trường. Đại bộ phận là con dân làng Lương Điền lên ở sau 1975. Làng Lương Điền gồm 5 đội với dân số chiếm gần nửa tổng dân số của xã (550 hộ với trên 2500 khẩu). Làng Hà Lộc gồm 114 hộ với 510 khẩu sống ven Ô Giang. Ở đây, người dân sỗng chủ yếu nghề nông. Ruộng phì nhiêu và mỗi năm hai vụ chắc ăn do công tác thủy lợi chủ động.

    Tuy đất không rộng người không đông, kinh tế chủ yếu là thuần nông nhưng Hải Sơn có một bề dày lịch sử văn hóa, giáo dục.

    Trải qua nhiều thời đại và những biến cố thăng trầm của đất nước, Hải Lăng đã luôn là một bộ phận không thể tách rời trong lịch sử đấu tranh và xây dựng của dân tộc. Mảnh đất này đã có dấu vết cư trú của con người từ rất sớm, các nhà khảo cố học đã chứng minh đầy thuyết phục về thời Tiền sử và Sơ sử đã có dấu vết của Tộc người thuộc ngữ hệ Mã Lai- Đa Đảo (Ma-lai-ô- Pô-li-nê-si-an) sinh sống bằng các nghề đánh cá ven sông, biển, và trồng trọt thuộc văn hóa Bàu Tró, Sa Huỳnh. Di duệ họ để lại được tìm thấy ở Trà Lộc, Bàu Chùa- Câu Hoan. Họ là những cư dân tiền Cham pa “các bộ phận cư dân này đã có mối quan hệ giao lưu văn hóa với nhau và với các bộ phận cư dân xa hơn về phía bắc (cư dân Đông Sơn) (Theo Lịch sử ngành văn hóa làngg tin Quảng  Trị 1945-2000 – trang 8). Trong thời cổ đại, vùng đất Hải Sơn từng thuộc ách đô hộ của các triều đại phong kiến Phương Bắc.  Năm 179 TCN, Triệu Đà chiếm nước Âu Lạc. Năm 111 TCN, nhà Hán chiếm Âu Lạc và chia nước ta thành 3 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam (bao gồm Bắc Bộ và bắc Trung Bộ đến Quảng Nam ngày nay.)  Hải Lăng lúc bấy giờ thuộc Châu Ô của quận Nhật Nam. Năm 192, nhân dân huyện Tượng Lâm nổi dậy khởi nghĩa lập nước Lâm Ấp (sau này đổi thành vương quốc Cham-pa). Từ thế kỷ II đến thế kỷ X vùng đất Hải Lăng thuộc Châu Ô của nước Lâm Ấp. Năm 1306, vua Cham- pa là Chế Mân cưới Huyền Trân Công chúa và lấy hai Châu Ô, Lý làm vật sính lễ. Năm 1037, vua Trần đổi Châu Ô thành châu Thuận và châu Lý thành châu Hóa ( châu Thuận là vùng đất của hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng). Nhà Trần đã tiến hành di dân, lập ấp mở thêm nhiều làng xã mới, bờ cõi đất nước được mở mang. Vào thời nhà Lê, năm 1466, vua Lê Thánh Tông đặt dải đất của Châu Thuận và Châu Hóa thành hai phủ là: Phủ Tân Bình và Phủ Triệu Phong thuộc xứ Thuận Hóa. Phủ Triệu Phong gồm 6 huyện: Vũ Xương, Đan Điền, Kim Trà, Tư Vang, Điện Bàn và An Nhơn; sau đó huyện An Nhơn được đổi thành Hải Lăng. Từ đấy, tên gọi Hải Lăng ra đời. Năm 1471, Vua Lê Thánh Tông chiếm kinh đô Vi Jaya kéo dài biên giới Đại việt đến Phú Yên ngày nay kết thúc sự tồn tại của vương quốc Cham-pa, mở ra trào lưu di dân mạnh mẽ của người Việt vào khai phá vùng đất Thuận- Quảng. Nhà Lê tiếp tục di dân, khai hoang lập ấp, mở mang bờ cõi.

    Sách Ô Châu cận lục do Dương Văn An viết vào giữa thế kỷ XVI (năm 1553) ghi rõ huyện Hải Lăng có 49 làng nhưng không có tên làng nào thuộc xã Hải Sơn. Hải Sơn chưa hình thành các đơn vị hành chính mà chỉ có một số nhóm dân định cư thưa thớt ven Ô Lâu, Ô Giang mà thôi.

    Năm 1588 Nguyễn Hoàng khi chạy trốn khỏi lưỡi gươm oan nghiệt của người anh rể Trịnh Kiểm đã mang theo mưu đồ cát cứ vào trấn thủ Thuận Hóa, huyện Hải Lăng vẫn giữ nguyên tên gọi và gồm có 5 tổng: Hoa La, An Thơ, An Dả, Câu Hoan và An Khang. Nguyễn Hoàng đã đưa “bầu đàn thê tử’’ và rất nhiều dân vào lập nghiệp ở vùng đất từ nam sông Gianh đến Phú Yên. Trong dòng người ấy có rất nhiều họ tộc ở lại đất Hải Sơn khai hoang lập nghiệp, lập nên nhiều dòng họ tồn tại đến ngày nay như: Họ Lê Văn, Nguyễn, Trương, Đoàn Như...

    Năm 1774, Lê Quý Đôn khi viết về vùng đất này trong Phủ biên tập lục (NXB Khoa học XH, năm 1960, trang 102) đã liệt kê các xã phường của các làng ở Hải Sơn do chúa Nguyễn chia đặt ở tổng Câu Hoan như sau: “Tổng Câu Hoan 6 xã, 1 thôn, 1 phường, 2 tộc: Câu Hoan, Diên Sinh, Trường Sinh, An Phúc, Hà Lỗ, Hà Lộc, Lương Phúc, Miễn Trạch, Đỗ Phùng’’ (Lương Phúc tức là Lương Điền, do Phúc: húy)

    Như vậy, xã Hải Sơn  thuộc tổng Câu Hoan (gồm các làng Hà Lộc, Lương Điền và Như Sơn) và thuộc tổng An Thơ (gồm các làng Trầm và Khe Mương).

    Nguồn gốc dân cư, đa số thành phần dân cư ở Hải Sơn đều có gốc từ các tỉnh ở miền Bắc vào, nhất là vùng Thanh-Nghệ. (theo LS Đảng bộ Hải Sơn, XB năm 2008, trang 21).

    Năm 1801, Nguyễn Ánh lấy phủ Triệu Phong lập ra dinh Quảng Trị gồm có 3 huyện: Đăng Xương, Hải Lăng và Minh Linh. Vào thời Gia Long cho đến năm 1827, vua Minh Mạng nối ngôi, dinh lỵ Quảng Trị đóng tại làng Thạch Hãn ( Hải Trí, Hải Lăng). Năm 1852, vua Tự Đức đổi huyện Hải Lăng thành phủ Hải Lăng, gồm các tổng là: An Thái, An Thơ, Văn Vận, Cu Hoan và An Nhơn.

    Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Phủ Hải Lăng đổi thành huyện Hải Lăng, giải thể cấp tổng, lập lại các xã.

    Hải Sơn trong kháng chiến chống Pháp (1950) thuộc xã Hải Phong (gồm Tân-Sơn-Hòa). Đến năm 1951, Hải Sơn thuộc về 2 xã Hải Đường và Hải Lộc (xã Hải Đường gồm có làng Hà Lộc, Lương Điền, Như Sơn, Tân Trường, Văn Trị và thôn Đông; xã Hải Lộc gồm Cồn Tàu, Tân Điền, Trầm, Khe Mương, Xuân Lộc, Vực Kè, Tân Lương, Mỹ Chánh, Hội Kỳ, Văn Phong).

    Thời kỳ Mỹ -  ngụy, huyện Hải Lăng đổi thành quận Hải Lăng. Toàn quận Hải Lăng gồm có 22 xã, đó là: Hải Thượng, Hải Lâm, Hải Phú, Hải Thọ, Hải Trường, Hải Sơn, Hải Chánh, Hải Tân, Hải Hòa, Hải Dương, Hải Khê, Hải An, Hải Quế, Hải Ba, Hải Vĩnh, Hải Quy, Hải Xuân, Hải Lệ, Hải Thiện, Hải Thành, Hải Phúc, Hải Trí. Quận lỵ đóng tại Diên Sanh.

    Năm 1975, quê hương Hải Lăng được giải phóng, quận Hải Lăng đổi thành huyện Hải Lăng, gồm có 22 xã, huyện lỵ đóng tại Diên Sanh.

    Đầu năm 1977, huyện Hải Lăng và huyện Triệu Phong hợp nhất thành huyện Triệu Hải, thuộc tỉnh Bình Trị Thiên. Tháng 7 năm 1989, tỉnh Quảng Trị được tái lập. Ngày 23 tháng 03 năm 1990 theo Chỉ thị số 91 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ), Triệu Hải được tách ra thành 3 đơn vị: Hải Lăng, Thị xã Quảng Trị và Triệu Phong. Ngày 01/5/1990 huyện Hải Lăng được lập lại, huyện lỵ Hải Lăng đóng tại vùng đất Diên Sanh và trở thành thị trấn Hải Lăng. Hải Lăng lúc này có 21 xã, thị trấn (tháng 3/2008 xã Hải Lệ sát nhập thị xã Quảng Trị).

    Tóm lại, sau ngày hòa bình, từ 1975 cho đến nay, xã Hải Sơn ổn định  dù huyện và tỉnh có thay đổi do tách nhập.

    Với một vị trí địa lý phức tạp, phía tây quốc lộ IA thuộc vùng bán sơn địa, người dân trồng chè, làm nương rẩy; phía đông quốc lộ IA người dân chủ yếu trồng lúa nước và chăn nuôi.... Hàng năm mưa lũ, rét buốt là cơn ác mộng đối với người dân quê nghèo. Bù lại, một lượng phù sa, tôm cá giúp cho đời sống nhân dân bớt nhọc nhằn, vất vả. Nơi đây, còn  thường diễn ra những cuộc giao tranh quyết liệt để bảo vệ độc lập, bảo vệ cứ địa cách mạng Khe Mương. Có lẽ chính vì hoàn cảnh sống khắc nghiệt “mưa phùn, gió bấc’’ đã tạo dựng cho con người Hải Sơn một nhân cách đáng quý: Kiên cường, bất khuất, dũng cảm, trong các cuộc chiến tranh, cần cù, tự lực, tự cường sáng tạo trong sản xuất, có tâm hồn trong sáng, thủy chung, và đặc biệt có tư chất thông minh, sáng tạo vươn lên bất chấp hoàn cảnh nguy nan. Từ xưa đến nay, bao thế hệ người Hải Sơn đã chống chọi với thiên nhiên và giặc dã để viết nên bao trang sử vàng cho con cháu noi gương.

    Đặc biệt từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, Hải Sơn sản sinh ra nhiều người con sớm giác ngộ Cánh mạng, đưa phong trào Cánh mạng của nhân dân trong địa phương  tiến lên, trở thành một trong những cái nôi của Cách mạng. Hải Sơn đã có 2 Bà mẹ Anh hùng (Mẹ Nguyễn Thị Tâm và Mẹ Nguyễn Thị Tràng); có 89 liệt sỹ; 42 thương bệnh binh; 36 cựu tù chính trị; 188 người có công với cách mạng... Xã đã được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1998. Trong xã  đã có 5 di tích lịch sử, văn hóa được tỉnh công nhận. Trong đó có 4 di tích lịch sử: Căn cứ Khe Mương, địa điểm cầu Bốn Thước, căn cứ Tân Điền, địa điểm ghi dấu trận chiến thắng Lương Điền và 1 di tích kiến trúc nghệ thuật: Nhà thờ họ Lê Văn (ở làng Lương Điền). 

    Về lịch sử, văn hóa:

     Trên bước đường Nam tiến, mở rộng biên cương Đại Việt về phía Nam trong các thế kỷ XIV-XV thì những vùng đất phì nhiêu, thuận lợi về giao thông ... đều được chọn trước để an cư lạc nghiệp, hình thành làng, xóm từ rất sớm. Vì vậy những vùng đất như Hải Sơn do thiên nhiên không mấy ưu đãi nên người dân đến định cư muộn hơn và những cư dân này vất vả nhiều hơn các nơi khác mới có thể dựng cơ nghiệp cho mình. Các làng Lương Điền, Hà Lộc, Như Sơn... tuy ra đời muộn hơn các làng xung quanh như Câu Lãm (Câu Nhi-Hải Tân), Cảm Quyết (Phước Tích), Dõng Cảm (Mỹ Xuyên)... nhưng với truyền thống lao động cần cù, chịu thương chịu khó, chung lưng đấu cật đã khai sơn phá thạch, tạo dựng nên một vùng đất ở và sản xuất rộng lớn như Hải Sơn hôm nay.

    Truyền thống lao động, đoàn kết cộng động còn được chứng minh qua các đợt di dân, khai hoang lập ấp của nhân dân các làng Hà Lộc, Lương Điền đến các nơi khác như Tân Điền, Tân Lương, Tân Trường, Vực Kè, Xuân Lộc... Qua đó, có thể khẳng định nhân dân Hải Sơn đóng vai trò quan trọng trong việc mở mang vùng đất phía tây năm Hải Lăng từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX. Bên cạnh truyền thống lao động, nơi đây còn mang dấu ấn những bước thăng trầm lịch sử không chỉ của một vùng đất mà còn ảnh hưởng đến một khu vực rộng lớn. Đồng thời qua đây thể hiện được truyền thống đấu tranh, yêu nước của nhân dân Hải Sơn.

    Dưới thời Mạc nhân dân Hải Sơn đã theo tướng Hoàng Bôi khởi nghĩa, lập căn cứ đầu nguồn sông Ô Giang để chống quân Trịnh. Núi rừng phía tây Hải Sơn làm đại bản doanh của quân khởi nghĩa...

    Thời các chúa Nguyễn, vùng đất này đã được lập tuyến phòng chống quân Trịnh ở Đàng Ngoài. Quốc sử quán triều Nguyễn còn lưu lại: “Hồi đầu quốc triều (các chúa Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên), binh sĩ Đàng Ngoài vào xâm lấn, nên đắp lũy đất từ đầu nguồn này (nguồn sông Mỹ Chánh)... để chống cự’’. Tại làng Lương Điền nay vẫn còn các địa danh như Bãi Voi, Trưa ngựa, Mô Súng, Nương Phủ, Ao Phủ, Sân Phủ Cồn Kho... Đây là những nơi có dấu tích  liên quan đến doanh trại của các chúa Nguyễn. Trong đó, cơ quan trọng yếu, nơi ở của quan quân chúa Nguyễn chính là các điểm Ao Phủ, Sân Phủ, Nương Phủ ngày nay thuộc phần đất của nhà thờ họ Lê Văn (làng Lương Điền) và vùng đất phía sau nhà thờ.

    Vì vây, trong Lê Quý Đôn, Phủ biên tập đã có ghi kha chi tiết một trận đánh  nhau ác liệt ngay trên địa bàn Hải Sơn khi quân Trịnh (ở Đàng Ngoài) tiến đánh doanh trại quân Nguyễn (ở Đàng trong).

     Trên đường thiên lý bắc - nam ngày xưa đi qua Hải Sơn theo lộ trình từ Diên Sanh vào Hải Trường (con đường này có từ thời Pháp thuộc), rồi vào thôn Nam (thuộc đội Một, thôn Lương Điền ngày nay). Tại đây có chợ Hôm Lạng và bến đò Hôm Lạng, qua sông Ô Lâu sang làng Mỹ Xuyên...Cũng từ đó trên đường thiên lý bắc - nam đã có nhiều câu thơ như: Trăm năm còn lỗi hẹn hò, Cây đa bến cộ con đò khác đưa” hoặc: “Trăm năm nhiều lỗi hẹn hò/Cây đa bến cũ con đò khác đưa/Cô đò đã thác năm xưa/Cây đa bến cũ còn lưa đợi chờ!”...

    Dưới thời nhà Nguyễn, Hải Sơn mặc dù là vùng đất gặp nhiều khó khăn trong việc học hành nhưng người dân Hải Sơn luôn cố gắng vượt qua, nhiều người đã đỗ đạt, làm quan cho triều đình như cụ Lê Toại (người làng Hà Lộc) đỗ Cử nhân khoa thi Mậu Tý (Đồng Khánh năm thứ 3-1888), cụ Lê Văn Khôi (người làng Lương Điền) đỗ Cử nhân khoa Mậu Ngọ (Khải Định năm thứ 3-1918).

    Hải Sơn là vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa. Trải qua nhiều thời kỳ, con người trên mảnh đất này không những chỉ tạo nên truyền thống đoàn kết, cần cù, chịu khó, truyền thống đấu tranh anh dũng kiên cường mà còn sản sinh ra những di sản văn hóa quý giá và thông qua những di sản này thể hiện truyền thống văn hóa lâu đời của nhân dân Hải Sơn.

    Di tích Miếu Bà nằm ở phía tây bắc làng Lương Điền, giáp với làng Như Sơn đã tồn tại gần 500 năm nay vẫn còn được trùng tu, tôn tạo, làm nơi thờ cúng thiêng liêng của nhân dân trong địa phương. Năm 1553, Dương Văn An, tác giả của “Ô châu cận lục’’ gọi đây là Đền thần Thủy tộc. Truyền thuyết về ngôi đền này là một người phụ nữ thuộc làng Lương Điền. Theo lưu truyền, những năm đại hạn trời không mưa được thì dân làng tổ chức cầu đảo ở Miếu Bà và tổ chức đua thuyền thì  đều có mưađể phục vụ cho sản xuất.

    Bên cạnh di tích Miếu Bà, Hải Sơn còn có một hệ thống di tích lăng mộ cổ rất có giá trị. Khu lăng mộ cổ này thuộc làng Trầm Sơn, nằm bên sườn đồi thuộc hữu ngạn sông Thác Ma, cách khu dân cư khoảng 800m về phía nam. Những ngôi mộ cổ này cho thấy được những vấn đề liên quan đến lịch sử, văn hóa của một vùng đất phía nam tỉnh Quảng Trị như kiến trúc, nghệ thuật xây dựng lang mộ, công cuộc mở mang vùng đất phía tây Hải Lăng...

    Hiện nay, tại làng Lương Điền có hai nhà thờ họ còn lưu giữ được giá trị về kiến trúc nghệ thuật, văn hóa, Đó là nhà thờ họ Nguyễn Văn và nhà thờ họ Lê Văn.

    Nhà thờ họ Lê Văn được khởi dựng vào thời vua Minh Mạng, khoảng 1820-1840. Đến thời Thành Thái, năm 1896, được trùng tu lại. Nhà thờ họ Lê Văn là một công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu. Dẫu đã trải qua chiến tranh, thiên tai vẫn còn giữ được nét cổ kính. Đó là cổng tam quan có mái uốn cong với đề tự “Lê từ môn’’. Cổng trang trí các con vật, hoa văn, câu đối theo lối kiến trúc cổ. Kế đến là bức bình phong xây bằng gạch, theo dạng cuốn thư, phía trước đắp nổi hình long mã chở lạc thư, hai bên trang trí hoa văn sen cúc. Phía sau đắp nổi hình cá chép và hoa mai, trúc. Nhà thờ là ngôi nhà rường cổ có kết cấu theo dạng năm gian hai chái, phân bố thành 6 hàng cột. Các xà, kèo, liễn ba được chạm khắc công phu. Cửa bản khoa theo dạng thượng song, hạ bản. Nhà thờ còn lưu giữ các hiện vật có giá trị như bức hoành phi, câu đối, hương án, tràng kỷ, lư đồng, lỗ bộ, đục bình... Nhà thờ họ Lê Văn là một trong 44 di tích thuộc loại hình kiến trúc nghệ thuật của toàn tỉnh Quảng Trị đã được UBND tỉnh công nhân là di tích lịch sử văn hóa từ năm 2004.

    Nhà thờ họ Nguyễn Văn (làng Lương Điền) tuy mới trùng tu nhưng công trình nghi môn phía trước là một do tích kiến trúc nghệ thuật có giá trị. Nghi môn này bảo lưu được nguyên gốc của một di tích hình thành từ thế kỷ XIX còn hiếm thấy tồn tại ở Quảng Trị.

              Chùa Lương Điền được hình thành khá sớm (Lương Phúc tự). Đây là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân qua hàng trăm năm.

    Là vùng có sông nước nên Hải Sơn thường tổ chức hội đua thuyền. Ngày xưa với với mong ước cầu mưa cho cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu, sau khi cầu đảo ở Miếu Bà người dân ở đây tổ chức hội đua thuyền. Ngày nay, trong các lễ hội tổ chức đua thuyền truyền thống tạo nên nét đẹp văn hóa của sự đoàn kết, gắn bó, sinh hoạt cộng đồng giữa các làng trong xã Hải Sơn.

    *Về giáo dục:

    “Tổ tiên ta bắt đầu học chữ Hán ngay từ buổi đầu thời Bắc thuộc, mà có lẽ từ đời Triệu Đà nữa, song việc giáo dục bắt đầu có tổ chức thì từ thời Sĩ Nhiếp. Cách tổ chức ấy sử sách không chép rõ thế nào, song ta có thể đoán là còn sơ sài lắm, mà trình độ giáo dục cũng chưa được cao“ (Theo Việt Nam văn hóa sử cương- NXB văn hóa thông tin năm 2000- trang 304).  Như vậy có thể nói thời Bắc thuộc, giáo dục nước ta chưa phát triển, chưa được chính quyền đô hộ đề cập đến, bởi chủ yếu các triều đại phong kiến phương Bắc muốn “đồng hóa’’ dân ta, nên bắt dân ta học tiếng Hán, theo phong tục Hán. Phải đến năm 1070, dưới thời nhà Lý nền giáo dục nước ta mới chính thức được đặt nền móng với sự kiện đáng ghi nhận vua Lý Nhân Tông cho xây dựng Văn Miếu Quốc Tử Giám- trường Đại học dầu tiên của Đại Việt – nơi dạy cho con vua và quý tộc. Song song với chú ý việc học nhà Lý cũng bắt đầu đưa ra chế độ thi cử để tuyển chọn nhân tài. Năm 1075, kỳ thi đầu tiên được tổ chức và Lê Văn Thịnh là người đỗ đầu.  Năm 1076 vua lại lập Quốc Tử Giám làm nơi đào tạo nhân tài. Sang nhà Trần, Lê việc giáo dục và khoa cử được tổ chức chu đáo hơn thời Lý. Nhà Lê mở lại Quốc tử giám và dạy cho con cháu các quan và những người tuấn tú trong dân thường vào học, ngoài ra còn mở các trường công, trường tư ở các lộ phủ. Đến thời vua Lê Thánh Tôn việc học hành thi cử mới thật sự được hoàn tất. Lê Thánh Tôn định lại phép thi Hương, thi Hội và thi Đình và đặt ra luật cứ 3 năm mở một khoa thi.

    Dưới triều vua Lê Hiển Tông, Sự kiện Bùi Dục Tài đỗ Tiến sỹ trong khoa thi năm Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (1502) đã làm nức lòng người dân vùng Thuận Hoá. Đây là lần đầu tiên một nho sinh Đàng trong trở thành một vị đại khoa, được khắc tên vào bảng vàng bia đá tại văn Miếu Quốc Tử Giám tại Hà Nội.

    Ngay trong buổi đầu trở về với Đại Việt, Hải Lăng có người con Câu Nhi đã làm rạng danh cho quê hương mình và nức lòng của người dân xứ Đàng trong. Đó là danh nhân Bùi Dục Tài. Bùi Dục Tài có hiệu Minh Triết, sinh năm Đinh Dậu (1477), tại làng Câu Nhi, xã Hải Tân, con của Bùi Sỹ Phường, cháu đời thứ 5 của Ngài thuỷ tổ Bùi Trành Bằng. Ông đỗ khoa thi Hương năm 1501; mùa Xuân năm 1502 đỗ khoa thi Hội; tiếp đó, trong kỳ thi Đình tại Thăng Long, ông đỗ Tiến sỹ xuất thân Đệ nhị giáp.  Học giả Dương Văn An đã  viết  “Miền Thuận Hóa tiếp giáp với Quảng Nam, đất cát chật hẹp, phong tục chát phá, dân cư thưa thớt, không thể sánh vai với các châu Hoan- Ái. Nhưng từ khi Đặng Tất làm tướng nổi tiếng tài năng, Bùi Dục tài vinh hiển từ khoa bảng thì phong tục nhân tài của ta khởi sắc, phát triển vượt bậc có thể sánh ngang với thượng quốc”. (Ô châu cận lục- NXB chính trị quốc gia, Tr.15)

       Thế kỷ XVI-XVII, thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh, mặc dù chúa Nguyễn đóng đô ở Quảng Trị 68 năm nhưng do còn mải miết với công việc khai hoang, gây dựng cơ nghiệp nên cũng chưa chú ý đến giáo dục. “Sang triều Nguyễn, vua Gia Long nhất thống Nam Bắc rồi cũng châm chước theo chế độ nhà Lê mà định phép thi’’ (Theo Việt Nam văn hóa sử cương- SĐD trang 308).

    Bộ máy quản lý giáo dục được hình thành, ở mỗi huyện có quan Huấn đạo, mỗi phủ có quan Giáo thụ, dạy Tứ thư và Ngũ kinh, Bắc sử cho học trò khá. ở mỗi tỉnh có quan Đốc học dạy cá sinh đồ cao đẳng, tỉnh nào gặp được quan Đốc học thì đến các Tú tài, Cử nhân cũng đến theo học để tiếp tục tham gia kỳ thi Hội. Nhưng nếu quan Đốc học là người tầm thường thì chẳng có ai theo học và trường công đành bỏ không, lúc bấy giờ người ta liền tìm đến các trường tư theo học. Ở kinh đô có trường Quốc tử giám (được chuyển từ Hà Nội vào Huế), tại đây có các quan Tế tửu và Tư nghiệp dạy học trò tham gia thi Hương và các Tú tài, Cử nhân tham gia thi Hội. Các vị quan trên đều thuộc quyền giám sát của bộ Lễ hoặc bộ Học. Tính từ năm 1807-1919 nhà Nguyễn dã tổ chức được 47 kỳ thi Hương, lấy đỗ 5.252 cử nhân và 39 kỳ thi Hội, thi Đình lấy đỗ 292 tiến sĩ và 266 phó bảng.

    Ở tỉnh có cơ quan đốc học, Hải Lăng có quan Huấn đạo và trường công hình thành ở huyện, còn các xã không có trường công mà chỉ có trường tư hoặc học trò học tại tư gia. Thầy giáo ngồi trên phản hoặc chõng, còn học trò thì ngồi xếp bàn trên chiếu hoặc nằm phủ phục để viết. Mặc dù vậy nhưng việc dạy học ngày xưa là một việc làm rất tôn nghiêm, Thầy giáo rất được trịnh trọng và học trò cũng hết lòng tôn kính thầy, học trò thường xem thầy như cha, thầy chết học trò phải để tang 3 năm. Khi thầy có việc cần giúp đỡ thì tất cả đồng môn phải đứng ra giúp đỡ, khi thầy hoặc vợ thầy mất thì đồng môn phải giúp con cả cúa thầy lo việc tang lễ. Khi đưa đám thầy thì tất cả học trò đều phải mang khăn trắng đưa đến huyệt. Như vậy rõ ràng “Việc học hành thì hết sức tự do, đạo thầy trò thì hết sức thân mật’’.(Việt Nam văn hóa sử cương- SĐD trang 311).

    Chính vì thế các vị đỗ đạt thời kỳ này phần nhiều là qua con đường học tập dân gian, học tại gia mà thành đạt. Từ năm 1502 đời vua Lê Hiển Tông, Bùi Dục Tài đã khai hoa Tiến sĩ đầu tiên của xứ Đàng Trong. Từ bấy đến nay, trải qua nhiều triều đại, Hải Lăng đã có các vị Đại khoa tiến sĩ sau:

    Ông Hoành Từ An Thơ (chưa rõ họ tên) người làng An Thơ, Hải Lăng có tiếng học giỏi, năm Hồng Thuận (1513), ông đỗ khoa Hoàng Từ; Ông Nguyễn Đức Hoan, người làng An Thơ, sinh năm Ất sửu (1805). Đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ; Ông Nguyễn văn Hiển, người làng Mỹ Chánh, sinh năm Đinh Hợi (1846), đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ; Ông Nguyễn Đức Tư, người làng An Thơ, đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ...

    Trong 17 vị Tiến sĩ, 10 vị Phó bảng và 166 cử nhân của tỉnh Quảng Trị (cả nước có 292 Tiến sĩ) thì số Tiến sĩ của Hải Lăng không phải ít. Như thế ta có thể kết luận bên dòng Ô Lâu xanh mát đã hun đúc nên nhiều bậc hiền tài, học hành đỗ đạt đại khoa giúp dân giúp nước!

    Hải Sơn đã có cụ Lê Toại (người làng Hà Lộc) đỗ Cử nhân khoa thi Mậu Tý (Đồng Khánh năm thứ 3-1888), cụ Lê Văn Khôi (người làng Lương Điền) đỗ Cử nhân khoa Mậu Ngọ (Khải Định năm thứ 3-1918). (Trích LS xã Đảng Bộ Hải Sơn)

    Theo quy định của nhà Nguyễn những người có bằng cấp đều được vua ban phẩm hàm làm lễ và “vinh quy bái tổ’’ rồi được bổ nhiệm làm quan tùy theo năng lực và trình độ học vấn.

    Thành đạt của các vị đại khoa ngoài ý chí, niềm say mê của chính bản thân họ phải kể đến công lao của những người vợ tảo tần không quản nắng mưa, không ngại khó khăn, sẵn sàng chịu đựng cho chồng dùi mài kinh sử, sự quan tâm động viên hết mực của cha, mẹ, sự khuyến khích của dòng họ, xóm làng. Đây chính là nguồn lực vô cùng to lớn góp phần cho họ thành đạt vì khi họ đã thành đạt thì đó là niềm kiêu hãnh của cả gia đình và dọng họ, xóm làng.

    Sau khi nước ta trở thành thuộc địa của Pháp, chương trình học có sửa lại đôi chút đó là thêm chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Tới khi hình thành đầy đủ, hệ thống giáo dục phổ thông Pháp-Việt có 3 bậc với học trình là 13 năm:

    Bậc Tiểu Học 6 năm: Lớp Đồng Ấu, Dự Bị, Sơ Đẳng, Nhì năm thứ nhất, Nhì năm thứ hai và lớp Nhất. Ba lớp đầu còn được gọi là bậc sơ học. Học xong lớp Sơ đẳng học sinh thi lấy bằng Sơ học yếu lược.

     Bậc Cao Đẳng Tiểu Học 4 năm: Học xong 4 năm được thi lấy bằng Cao Đẳng Tiểu Học (gọi tắt là Diplôme), còn gọi là bằng Thành Chung. 

    Bậc Trung Học 3 năm: Học xong 2 năm đầu được thi lấy bằng Tú Tài phần thứ nhất. Năm thứ 3 được (có phân ban) thi lấy bằng Tú Tài Toàn phần.  

    “Rõ ràng chính sách giáo dục của thực dân Pháp ở Đông Dương nói chung và ở Việt Nam nói riêng là hạn chế, ngăn cản người Việt Nam tự giải phóng mình thoát khỏi tình trạng dốt nát. Đó là một chính sách ngu dân triệt để, một bộ phận cấu thành của chính sách cai trị độc ác của thực dân Pháp....’’(Theo 35 năm phát triển sự nghiệp giáo dục PT, NXB giáo dục năm 1990, trang 10-11).

    Từ khi các chi bộ Đảng được thành lập, phong trào cách mạng ở Hải Lăng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt sau hội nghị “Bí thư đoàn’’ phong trào học chữ quốc ngữ diễn ra sôi nổi. Việc học chữ quốc ngữ được mở ra ở các làng, xã, làng, xóm do những người đảng viên lãnh đạo và được các tầng lớp thanh thiếu niên, nhân dân tham gia rộng rãi. Học chữ quốc ngữ trở thành một phong trào có sức lan tỏa mãnh liệt chống lại chính sách “ngu dân“ của thực dân Pháp. Có thể thấy rằng trong thời kỳ sơ khai, giữa muôn vàn khó khăn gian khổ thậm chí nguy hiểm đến tính mạng nhưng những chiến sĩ cách mạng kiên trung đầu tiên của Hải Lăng đã không chỉ làm nhiệm vụ giải phóng dân tộc mà còn quan tâm đến đời sống văn hóa của nhân dân. Chính nhờ phong trào học chữ quốc ngữ đã đào tạo ra những người con yêu nước, có tri thức, có tinh thần cách mạng sẵn sàng cống hiến và phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc và của quê hương.

    Ở Hải Lăng lúc này Hội truyền bá chữ quốc ngữ do cụ Nguyễn Văn Tố làm hội trưởng. Tất cả mọi người không biết chữ đều được đến học ở các lớp, với đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi, và một điều đặc biệt ở đây là học nhưng không thu học phí. Đảng bộ Hải Lăng còn sáng tạo mở các lớp học chữ quốc ngữ vào ban đêm để dạy cho những người lớn tuổi. Với chủ trương đúng đắn đó đã khích lệ được tinh thần hiếu học của nhân dân. Cán bộ, đảng viên đã hoạt động hăng hái. Các nhà giáo, học sinh đều tham gia tự nguyện. Các lớp học chữ quốc ngữ cũng chính là nơi các nhà hoạt động cách mạng truyền bá các loại báo chí của Đảng như: tờ “Dân chúng’’ (cơ quan ngôn luận của đảng), tờ “Nhành lúa’’, “Dân’’ đã vận động quần chúng đi theo Cách mạng. Nhờ vậy mà phong trào đón Gô-đa (1937) nhân dân Hải Lăng hiểu được chủ trương của đảng, không phải chỉ đưa yêu sách và nguyện vọng mà phải tiếp tục đấu tranh đòi kẻ thù phải thực hiện yêu sách và nguyện vọng đã được đề đạt.

    Các hội ái hữu được thành lập, “Các hội ái hữu trong phủ lấy việc truyền bá chữ quốc ngữ làm nội dung sinh hoạt để tập hợp quần chúng rộng rãi. Đoàn thanh niên dân chủ đã dựa vào phong trào truyền bá chữ quốc ngữ mà mở rộng hoạt động chống phát-xít, tổ chức các cuộc lạc quyên ủng hộ Trung Quốc chống Nhật’’ (Theo lịch sử đảng bộ Hải Lăng. Tr 51).

    Chỉ trong một thời gian ngắn thông qua Hội truyền bá chữ quốc ngữ Hải Lăng đã vận động, giác ngộ được hàng ngàn quần chúng và đưa họ vào các tổ chức Đảng.

    Tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp ngóc đầu dậy, thẳng tay đàn áp Đảng cộng sản và các tổ chức dân chủ, tăng cường khủng bố, đàn áp. Trước tình hình đó, Đảng chủ trương chuyển các tổ chức đảng vào hoạt động bí mật. Các tổ chức công khai như hội tương tế, hội ái hữu... chuyển thành các hội phản đế. Mặc dù không còn hoạt động công khai như trước, nhưng Đảng bộ phủ vẫn cho lưu hành các tờ báo bí mật của Đảng như “Bẻ xiềng sắt’’, “Cởi ách’’. Trước tình hình đó, thanh niên, học sinh, trí thức Hải Lăng đóng vai trò quan trọng trong việc nhận định tình hình thời cơ giải phóng dân tộc đã đến. Đêm 20-10-1940, Đảng bộ Hải Lăng tổ chức rải truyền đơn kêu gọi thanh niên học sinh, kêu gọi Hoa Kiều đoàn kết đứng lên. Sau sự kiện này địch tăng cường khủng bố, nhiều tổ chức đảng bị phá vỡ, phong trào cách mạng ở Hải Lăng gặp nhiều khó khăn, nhưng nhờ sự giác ngộ các mạng qua các hoạt động của hội truyền bá chữ Quốc ngữ trước đây mà đồng bào ta vẫn nuôi dấu, che chở cho các chiến sĩ cộng sản tiếp tục nằm vùng hoạt động.

    Từ năm 1938, hưởng ứng phong trào truyền bá quốc ngữ do Đảng phát động, nhân dân xã Hải Sơn đã hăng hái tham gia phong trào học chữ Quốc ngữ. Trường ở làng Lương Điền đã được mở ở trước chùa Lương Điền. Trường tạm bợ chỉ làm bằng tranh tre. Qua một năm trường được mở, đã thu hút đông đảo con em từ khắp nơi trong vùng đến học (có cả con em làng Xuân Lộc, Hội Kỳ của xã Hải Chánh đến học). Trường có 3 lớp học (lớp 1+2, lớp 3 và lớp 4). Mỗi lớp có đến 20-25 em. Các thầy giáo đều là người trong làng nhừ giáo Hoàng, Trợ Phiên, giáo Quýnh, Trợ Liên... Các thầy giáo nói trên là tầng lớp trí thức đầu tiên của Hải Sơn rất được nhân dân kính trọng, bởi họ không những dạy chữ với những nội dung tiến bộ mà còn rèn luyện cho các thế hệ học sinh những đức tính tốt đẹp như “Tôn sư trọng đạo’’, “Tiên học lễ, hậu học văn’’... Nhờ hưởng ứng tích cực phong trào truyền bá Quốc ngữ mà sau này, các thế hệ thầy trò trường Lương Điền đã trở thành lực lượng quan trọng trong các cuộc đấu tranh, trở thành người lãnh đạo chính quyền Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. (Trích LS Đảng bộ xã Hải Sơn, XB năm 2008, trang 47).

     Phong trào học chữ Quốc ngữ được nhân dân hưởng ứng sôi nổi, chữ được viết khắp nơi ở đình làng, ngõ chợ, bến sông, chữ viết trên vách nhà, công cụ lao động. Các lớp học bình dân học vụ được tổ chức linh hoạt. Trình độ người dạy cao hơn người học không được bao nhiêu nhưng với nhiệt tình cách mạng vừa dạy vừa học, học lớp trên xuống dạy lớp dưới theo tinh thần người biết một chữ dạy người chưa biết chữ. “Đội thiếu niên mà những học sinh là hăng hái nhất tham gia tích cực hơn, nhờ vậy mà sau một thời gian học có nhiều người đã thoát nạn mù chữ. Người không biết chữ là nông dân, họ phải lao động cả ngày, đêm mới đi học. Dầu đèn phải tự kiếm lấy. Không có dầu hỏa mà dùng đèn nhựa cây cà bong làm đuốc, đốt lên khói mù...’’ (Theo hồi ký Đất quê hương của Lê Văn Hoan. Trang 39)

    Những biện pháp vừa có tính chất tuyên truyền cổ động, vừa có tình chất bắt buộc học chữ Quốc ngữ được thực hiện. Đội tuyên tryền vận động có nhiều sáng kiến để khuyến khích học tập vừa hợp lý, vừa tiện, vừa dễ nhớ, có thể học ở bất cứ lúc nào kể cả khi đang làm việc như các câu hò, vè, những câu văn để minh họa mặt chữ dễ nhớ:

    “O tròn như quả trứng gà / Ô thời đội mũ, ơ thời có râu’’

    “O, a hai chữ khác nhau / Vì a có cái móc câu bên mình’’

    Hoặc:  “I, t có móc cả hai / I ngắn có chấm, t dài có ngang’’

    Nhiều "Chiến sĩ diệt dốt"  có sáng kiến lập cổng chào qua làng, làm cổng chợ, dựng cổng bến đò viết sẵn chữ liên quan bắt buộc mọi người phải đọc được mới cho qua, nếu không đọc được thì không cho vào, về nhà phải học cho thuộc. Đây là tình cảnh “tiến thoái lưỡng nan” của các trai làng trước sự chế giễu, khiêu khích, tấn công của các làng nữ:

    Anh ăn mặc đẹp trai, mặt mày sáng sủa

    Mà dốt đặc cán mai, chữ chi chưa biết chữ chi

    Qua cổng chợ làng cúi khom xuống mà đi

    Cụ Hồ đã có lời khuyên ta đi học, anh có nhớ gì không anh?

    Ngoài ra ở những nơi công cộng, nhà ở, chỗ nào có tường vôi trắng thì đều có viết các chữ Quốc ngữ để mọi người đều có thể nhìn thấy. Nhờ chính sách khuyến khích học tập của Đảng và Chính phủ, sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền địa phương và tinh thần hiếu học của nhân dân mà chỉ sau một thời gian ngắn đã giúp nhiều người từ chỗ thất học đến biết đọc, biết viết. Tất cả mọi người dân đều hắng hái tham gia học, có những vần thơ thật cảm động nói về những mẹ già vẫn gắng học với ước mong thật giản dị mà rất đỗi thiêng liêng, tự tay mình viết được tên Bác Hồ:

    Tuổi cao mắt mạ có mờ

    Dằn lòng son sắt mạ chờ Bác vô

    Đêm đêm nhẩm đọc i tờ

    Cầu sao viết được chữ Hồ Chí Minh.

    Năm 1945, thực hiện chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng “Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta’’, thời cơ khởi nghĩa đã đến, công việc chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa được tiến hành. Ngày 21-8-1945 ủy ban khởi nghĩa phủ Hải Lăng được thành lập. Dưới sự lãnh đạo ủa Ủy ban khới nghĩa, hàng vạn quần chúng đã tập trung ở các địa điểm với các loại vũ khí thô sơ như: dao, kiếm, mỏ xảy, gậy gộc tiến vào phủ lỵ. Đúng 01 giờ ngày 23/8/1945, lệnh khởi nghĩa được phát ra, quần chúng xông vào chiếm phủ lỵ. Tri phủ Trương Đình Nguyên xin trao chính quyền cho ủy ban khởi nghĩa phủ. Ngày 23-8-1945 khởi nghĩa giành được chính quyền ở phủ Hải Lăng.

    Tháng 9 năm 1945 nhân dịp khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chủ Tịch đã gửi thư cho học sinh cả nước:

    “Các em học sinh!

    Ngày hôm nay là ngày khai trường đầu tiên ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tôi đã tưởng tượng thấy trước mắt cái cảnh nhộn nhịp tưng bừng của ngày tựu trường ở khắp các nơi... Nhưng sung sướng hơn nữa, từ giờ phút này trở đi các em bắt đầu nhận được một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam. Trước đây cha anh các em, và mới năm ngoái cả các em nữa, đã phải chịu nhận một nền học vấn nô lệ, nghĩa là nó chỉ đào tạo nên những kẻ làm tay sai, làm tôi tớ cho một bọn thực dân người Pháp. Ngày nay các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em.’’(HCM Toàn tập 1945-1946. NXB chính trị quốc gia năm 2000- tr. 32)

    Thắng lợi của cách mạng tháng Tám ở Hải Lăng, trong đó có Hải Sơn,  không phải là thắng lợi bằng súng đạn mà là sức mạnh của lòng yêu nước, ý chí cách mạng của người cộng sản thông qua công tác tuyên truyền giáo dục. Những đóng góp của giáo dục, của phong trào học chữ quốc ngữ trong giai đoạn này đã góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng quê hương và tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển của nền giáo dục cách mạng.

    Tóm lại, trải qua một thời gian dài dưới chế độ phong kiến và ách thống trị của thực dân Pháp, nhân dân Hải Sơn luôn biết vượt qua mọi hoàn cảnh khó khăn khốc liệt của thiên tai, của chiến tranh để đi lên. Dù là xã nghèo, bé nhỏ, thuần nông, kinh tế và giáo dục đều chưa phát triển, nhưng ngay từ những bước khởi đầu, giáo dục Hải Sơn đã để lại một truyền thống đáng tự hào. Đó chính là truyền thống:  yêu nước- hiếu học của con người Hải Sơn. Truyền thống này sẽ được phát huy sau khi nước nhà giành được độc lập.

    Giữa lúc đó, Mặt trận Huế vỡ ngày 8/2/1947, Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng trên toàn bộ tỉnh Quảng Trị. Ngày 16/2 chúng đánh chiếm hết các cứ điểm quan trọng dọc theo quốc lộ số 1 từ Mỹ Chánh đến thị xã Quảng Trị. Trước tình hình đó, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, huyện ủy chỉ đạo đánh địch và xây dựng khu căn cứ cách mạng, chiến khu Hòn Linh được hình thành. Phong trào Bình dân học vụ tạm lắng. Thực dân Pháp vẫn duy trì chế độ giáo dục thời Pháp thuộc ở những vùng chúng chiếm đóng.

    Năm 1948, phong trào chống địch càn quét vào các khu căn cứ của ta lên cao đã làm giảm tốc độ hành quân của địch, góp phần bẻ gãy cách quân của địch hành quân lên chiến khu. Cùng với phong trào thi đua “luyện quân lập công’’, huyện còn phát động phong trào thi đua “diệt giặc dốt’’ giáo viên đã hăng hái đi về các vùng khó khăn trong thế trận cài răng lược, bên địch - bên ta, tổ chức lớp học, xây dựng trường sở. Vì vậy ở vùng chiến khu, vùng tự do, vùng giáp ranh, các lớp học được tổ chức trở lại. “Thiếu giấy nhân dân dùng lá chuối, thiếu phấn thì dùng than’’ (Theo Lịch sử Đảng bộ Hải Lăng- trang 127). Phong trào được đẩy mạnh trong cán bộ, bộ đội, dân quân tự vệ và du kích đã động viên khuyến khích mọi người cùng tham gia. Kết quả nhiều cán bộ chiến sĩ trong lực lượng vũ trang từ chỗ không biết chữ đã biết đọc, biết viết.

    “Linh hoạt trong cách tổ chức và sáng tạo trong việc dạy chữ là cách làm có hiệu quả của các tổ chức giáo dục lúc bấy giờ.  Người dạy bình dân học vụ là những người lao động có vốn hiểu biết nhất định, nhiều khi chỉ cách một lớp nhưng vô cùng tâm huyết và tận tụy. Chủ tịch Hồ Chí Minh phong tặng cho các nhà giáo danh hiệu "Anh hùng vô danh". Khi địch đi càn, người dạy bình dân học vụ là chiến sĩ quả cảm giết giặc, khi địch rút, người chiến sĩ là người thầy. Các lớp bình dân học vụ được lồng ghép rất linh hoạt, vừa dạy chữ, vừa tuyên truyền kháng chiến và cũng là nơi sinh họat văn hóa văn nghệ thực hiện đời sống mới "ăn đũa hai đầu" vệ sinh thường thức. Cán bộ bình dân học vụ nhiệt tình, chịu thương chịu khó nhất. Ở huyện Hải Lăng có một chị giáo viên bình dân học vụ cha bị giặc Pháp bắn chết, chôn cất cha xong là đến thẳng lớp bình dân học vụ vì biết rằng ở đó mọi người đang chờ chị’’ (Lịch sử giáo dục Quảng Trị. Trang 72,73). 

    Trình độ văn hóa của nhân dân ngày càng được nâng cao, mọi người dân trong huyện đều hướng về nhà nước VNDCCH, thi đua đóng góp sức người và sức của phục vụ kháng chiến. Các xã Hải Thượng, Hải Châu, Hải Trình, Hải Tân, Hải Hòa, Hải Long, Hải Trung, Hải Vĩnh... đều mở thêm được các lớp bình dân học vụ. Đặc biệt có những làng ở ngay sát vị trí địch đóng quân vẫn mở được lớp học như Thi Ông, Thượng Xá. Các lớp học cấp một phổ làng được duy trì. Do điều kiện chiến tranh để đề phòng phi pháo, thầy trò cùng kéo nhau ra các lùm cây hay giao làngg hào để học. Mỗi lần đi học học sinh mang theo bàn ghế hoặc cái thúng úp lại làm bàn để học.

    Tháng 4 năm 1950, Đại hội Đại biểu tỉnh Quảng Trị được tiến hành tại chiến khu Ba Lòng. Đại hội đã đề ra nhiệm vụ: “Đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, phát triển văn nghệ và vận động đời sóng mới...’’. (Theo Lịch sử đảng bộ Quảng Trị tập 1. Tr 338). Thực hiện Nghị quyết của Đại hội tỉnh đảng bộ lần thứ IV, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của huyện ủy Hải Lăng, phong trào giáo dục của huyện nhà được phát triển.

    Bác Lê Văn Hoan, nguyên tịch ủy ban mặt trận tỉnh Quảng Trị bùi ngùi nhớ lại: Năm 1950  - 1951 vùng giải phóng của ta được mở rộng từ Khe Mương, Trầm, Tân Lương và Xuân Lộc sang Tân Trung, Câu Nhi, xuống Văn Phong.  Lúc này các cơ sở Đảng trong huyện cũng ngày càng lớn mạnh về số lượng và chất lượng. Phong trào giáo dục phát triển trở lại, trường học được mở tại Hải Lệ, có các lớp cấp 1, về sau có thêm 1 lớp cấp 2. Lúc này cả tỉnh chỉ có 1 trường cấp 2 hoàn chỉnh có đủ 3 khối lớp là trường Lê Thế Hiếu. Ngoài trường học tại Hải Lệ, phong trào bình dân học vụ lúc này phát triển đều khắp trong các làng xóm. Lớp học được tổ chức cả ban ngày, buổi trưa, lẫn ban đêm để mọi người ai cũng có thể tranh thủ sau giờ làm việc là được tham gia học. Không chỉ tổ chức học mà còn tổ chức kiểm tra, phong trào “lùng giặc dốt’’ cũng được tiến hành, thỉnh thoảng tiến hành kiểm tra xem còn ai chưa biết chữ thì ghi tên và tổ chức cho họ tham gia học. Không khí học trở thành một phong trào phát triển rầm rộ trong từng làng xóm. Đêm đêm nghe vang tiếng học bài i, a. Phong trào bình dân học vụ lên cao, đội ngũ giáo viên thiếu trầm trọng nên đã động viên những người có bằng Primaire làm giáo viên.

    Tháng 7 năm 1951, Bộ giáo dục tổ chức Đại hội liên hoan Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc lấn thứ nhất. Thầy giáo Lý Văn Biên (quê Hải Thành) là chiến sĩ thi đua đầu tiên của Ngành giáo dục Quảng Trị có vinh dự  tham dự.

    Do hoàn cảnh chiến tranh, năm 1952 hệ thống giáo dục mới được triển khai ở Quảng Trị. (Năm 1950, ta tiến hành cải cách giáo dục lần thứ nhất, với hệ thống giáo dục 9 năm. Tính chất của nền giáo dục là của dân, do dân và vì dân, được xây dựng trên nguyên tắc dân tộc- khoa học- đại chúng). Hệ thống giáo dục 9 năm chia thành 3 cấp học:

    Câp 1: 4 năm; Cấp 2: 3 năm; Cấp 3: 2 năm. Học sinh trước khi bước vào lớp 1 phải học lớp vỡ lòng.

    Song song với hệ thống giáo dục phổ thông 9 năm là hệ thống giáo dục bình dân học vụ. “Huyện Hải Lăng và huyện Triệu Phong có một người phụ trách giáo dục chung gọi tắt là thanh tra giáo dục, đó là ông Nguyễn Hữu Sắt’’ (theo Lịch sử Giáo dục Triệu Phong). Tuy nhiên, từ năm 1952, địch liên tục mở các trận càn vào khu căn cứ, khu du kích và vùng tạm chiếm để tiêu diệt lực lượng cách mạng, quân và dân Hải Lăng tập trung anh dũng chống trả quyết liệt. Hải Lăng bước vào thế trận chống giặc. Trước tình hình mới, Hội nghị huyện ủy mở rộng đã nhất trí đánh giá: Địa bàn Hải Lăng không còn vùng tự do  như trước mà chỉ có 2 vùng: tạm bị chiếm và du kích.

              Ở  vùng tự do: các trường tiểu học vẫn hoạt động dạy và học. Trường thường đặt ở nhà dân, đình, chùa. Khi giặc đến càn quét thì thầy trò sơ tán, khi giặc rút thì các lớp lại tiến hành hoạt động bình thường. Dù hoàn cảnh chiến tranh, có khi ban ngày giặc bắn phá thì các lớp học chuyển sang học vào ban đêm.  Học sinh sau khi hoàn thành chương trình tiểu ra học cấp II tại chiến khu  hoặc trường Lê Thế Hiếu (Cùa). Năm 1952, Ty giáo dục Quảng Trị được chi viện thêm 1 số giáo viên đã chủ trương mở thêm một số trường cấp 2 nhô lên từ cấp 1 và thầy Hoàng Đức Thạc được phân về làm hiệu trưởng trường cấp I-II Hải Phong.

    Ở vùng tạm chiếm: trong tình thế kìm kẹp của địch,  nhân dân bị o ép nhiều mặt, đó là chưa kể lúc chúng tổ chức vây ráp hoặc bị ta đánh tiêu diệt nhưng nhân dân vẫn tìm cách cho con em học hành trong các trường Tiểu học, Trung học do địch quản lý. Mặc dù ở trong vùng tạm chiếm nhưng một số giáo viên và đông đảo học sinh luôn luôn hướng về Cách mạng. Có giáo viên ban ngày dạy cấp I (trường do địch quản lý); ban đêm dạy bổ túc văn hóa cho dân.  Nhiều học sinh vùng tạm chiếm sau khi xong tiểu học đã vượt lô cốt địch, băng rừng lên chiến khu học tiếp cấp II.

    Hải Sơn hưởng ứng  chủ trương của Chính phủ, phong trào “Bình dân học vụ’’ đã thu hút đông đảo quần chúng tham gia, kể cả già trẻ, gái trai, lực lượng tự vệ... Họ thi đua học chữ Quốc ngữ, học mọi lúc, mọi nơi. Nhiều biện pháp vừa có tính cổ động, vừa có tính bắt buộc như trước cổng làng, cổng chợ có treo các bảng chữ, ai đọc được thì cho qua...

    Lúc này, trường Lương Điền không có đủ phòng ốc cho đồng bào đến học nên một số “trường’’ mới đã được hình thành, đó là những ngôi nhà dân, đình , chùa... cụ thể như nhà ông Lê Thí ở Cồn Tàu (Lương Điền) chứa đến 20 học viên, nhà ông giáo Thiết ở làng Lương Điền có đến 20-30 người đến học.... Giáo viên lúc này là những người biết chữ dạy cho những người không biết chữ. Giáo viên bình dân học vụ ở Hải Sơn lúc này có: Thầy giáo Thiết, giáo Hoàng, giáo Cháu, ông Lê Thanh (Tranh), ông Trần Công Khuyên, ông Nguyễn Văn Đản, ông Nguyễn Văn Nghè, ông Thân Trọng Nghiêm... dẫu bận rộn nhiều công việc nhưng vẫn tranh thủ ban đem tham gia dạy cho bà con cách đọc và viết chữ quốc ngữ. Với quyết tâm của cả người dạy và người học nên chỉ sau thời gian ngắn nhiều người dân đã biết đọc và viết. (Trích LS Đảng bộ xã Hải Sơn, XB năm 2008, trang 65).

    Nhìn chung, giáo dục vùng tạm chiếm nội dung không thóat khỏi việc giáo dục của địch, chống phá Cách mạng.  Nhưng vốn có lòng yêu nước và tình cảm cách mạng sâu sắc, nhiều giáo viên và học sinh đã bí mật quyên góp giấy vở, học phẩm chuyển ra cho học sinh vùng chiến khu học tập. Nhiều giáo viên và học sinh sau này đi theo Cách mạng góp sức vào công cuộc kháng chiến kiến quốc.


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Lạp @ 16:47 04/02/2013
    Số lượt xem: 768
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến